Bao nhiêu năm trời chị cõng chồng trên lưng đi cưa từng phần cơ thể để chống chọi với bệnh tật. Chừng ấy năm là chừng ấy thời gian thấm đẫm nước mắt. Chị tên Đào Thị Tám, ở Bến Quan (Vĩnh Linh, Quảng Trị).
Category Archives: Những mảnh đời…
Bé gái 8 tuổi tự lo hậu sự
![]() |
| Xa Diễm lần đầu tiên trong đời được uống sữa. Ảnh chụp tại bệnh viện. Ảnh: Trangha’s blog. |
Cô bé Xa Diễm có đôi mắt đen lóng lánh và một trái tim thơ ngây non nớt, chỉ sống vẻn vẹn 8 năm. Câu cuối cùng cô bé nói là: “Con từng được sống! Và con rất ngoan!”.
Xa Diễm hy vọng được chết vào mùa thu. Thân thể gầy gò của em giống một bông hoa nở theo mùa. Khi hoa vàng nở khắp mặt đất và những chiếc lá rơi chao liệng khắp nơi, em sẽ thấy cả những đàn nhạn di cư bay ngang trời xa.
Ngày 30/11/1996 (20/10 âm lịch), “cha” Xa Sĩ Hữu phát hiện một hài nhi mới sinh bị vứt bỏ đang thoi thóp và lạnh toát trong đống cỏ bên chân một cây cầu nhỏ ở thị trấn Vĩnh Hưng, ngực hài nhi cài một mẩu giấy nhỏ, chỉ ghi vắn tắt “20 tháng 10, 12 giờ đêm”.
Khi đó, cha Xa Sĩ Hữu tròn 30 tuổi, nhà ở tổ 2, thôn Vân Nha, thị trấn Tam Tinh, huyện Song Lưu, tỉnh Tứ Xuyên. Vì nhà nghèo quá, không cưới được vợ, nếu cha nhận nuôi thêm đứa trẻ này, có lẽ càng chẳng bao giờ có cô nào chịu lấy cha nữa.
Vì vậy, nhìn đứa trẻ còi như con mèo bé vừa khóc vừa ngáp ngáp thút thít, Xa Sĩ Hữu mấy lần nhặt lên rồi lại đặt xuống, bỏ đi rồi lại ngoái lại nhìn, đứa bé thân mình đầy bùn đất lạnh, tiếng khóc yếu ớt, nếu không ai cứu, chả mấy mà đứt sinh mệnh! Cắn răng, anh ôm đứa bé lên lần nữa, thở dài nói: “Thôi thì tao ăn gì, mày ăn nấy!”.
Những đứa trẻ số phận đau khổ thường khác người. Từ lúc 5 tuổi, em rất biết ý thức giúp cha làm việc nhà, giặt giũ quần áo, nấu cơm, cắt cỏ em đều biết làm thành thạo.
Vào học lớp một, Xa Diễm biết mình phải cố gắng. Em xếp thứ nhất trong lớp, làm người cha mù chữ của mình cũng mở mày mở mặt với làng xóm.
Tháng 5/2005, Xa Diễm thường bị chảy máu cam. Một buổi sáng ngủ dậy định rửa mặt, đột ngột em phát hiện cả chậu nước rửa mặt đã biến thành màu hồng. Nhìn kỹ, là máu mũi đang nhỏ giọt xuống, không cầm máu được. Xa Diễm mắc bệnh máu trắng (bạch cầu cấp – acute leucimia).
![]() |
| Cha của Xa Diễm. Ảnh: Trangha’s blog. |
Chi phí điều trị căn bệnh này vô cùng đắt đỏ, thông thường điều trị cơ bản đã cần 300 nghìn nhân dân tệ (tương đương 600 triệu VND), Xa Sĩ Hữu choáng váng. Ông quyết định bán cái duy nhất có thể ra tiền là căn nhà xây bằng gạch mộc, gạch chưa nung của mình. Nhưng nhà thì quá rách nát, lúc đó không thể tìm ra ai muốn mua nó.
Hôm đó về nhà, một đứa trẻ từ nhỏ đến lớn chưa từng vòi vĩnh cha bất cứ điều gì, đã đòi cha hai yêu cầu: Em muốn có một tấm áo mới, và em muốn được chụp một bức ảnh. Em giải thích cho cha: “Sau này, khi con không còn nữa, nếu cha nhớ con, cha có thể nhìn con ở trong ảnh”.
Ngày hôm sau, cha Xa Sĩ Hữu nhờ người cô đi cùng đưa cháu lên thị trấn, tiêu hết 30 tệ (60.000 VNĐ) mua một bộ quần áo mới, Xa Diễm tự mình chọn một chiếc quần cộc màu hồng phấn, người cô chọn cho Xa Diễm một chiếc váy trắng chấm đỏ, nhưng khi Xa Diễm mặc thử, thấy tiếc rẻ nên lại cởi ra.
Ba người đi đến tiệm chụp ảnh, Xa Diễm mặc bộ đồ màu hồng mới tinh, ngón tay đưa ra hình chữ V, cố gắng mỉm cười, nhưng cuối cùng cũng không kìm được để nước mắt chảy ra. Em đã không thể đến trường nữa, em xách cái cặp đứng trên con đường nhỏ đầu làng, mắt ươn ướt.
Nếu không có một phóng viên tên là Truyền Diễm của tờ “Thành Đô buổi chiều”, thì chắc Xa Diễm sẽ chỉ như một phiến lá cây khô rụng xuống, lẳng lặng bị cuốn đi theo gió.
Cô phóng viên này sau khi biết tin từ bệnh viện, đã viết một bài báo, kể lại toàn bộ câu chuyện của Xa Diễm. Sau khi bài báo “Đứa trẻ 8 tuổi tự lo hậu sự” được đăng, cả thành phố Thành Đô đều bị cảm động, cả mạng Internet toàn Trung Quốc cũng cảm động.
Có một phong trào lan truyền trên khắp Trung Quốc, trong cả đời sống thật của thế giới người Hoa lẫn trên mạng ảo, những người có lòng tốt bắt đầu quyên góp để cứu sinh mệnh mong manh của cô bé.
Trong vòng mười ngày, con số quyên góp từ toàn thể người Hoa đã lên tới 560.000 nhân dân tệ, đủ để chi phí phẫu thuật, và hy vọng cuộc sống của Xa Diễm lại được thổi bùng lên từ bao nhiêu trái tim nhân ái.
Xa Diễm chịu đựng đợt hóa trị khó chịu. Trong cửa kính, Xa Diễm nằm trên giường truyền dịch, đầu giường đặt một chiếc ghế, ghế để một cái âu nhựa, thỉnh thoảng em quay người sang đó nôn.
Sự kiên cường của đứa bé khiến người lớn cũng kinh ngạc. Bác sĩ Từ Minh, người điều trị chính cho em giải thích, giai đoạn hóa trị, đường ruột và dạ dày sẽ phản ứng kịch liệt, thời gian đầu mới hóa trị, mỗi lần Xa Diễm nôn đều nhiều, nửa âu, nhưng đến “ho” một tiếng cũng không.
Trong lúc kiểm tra tuỷ xương khi nhập viện, mũi tiêm đâm từ ngực, em “không khóc, không kêu la, cũng không chảy nước mắt, đến động đậy cũng không dám”.
Hai tháng hóa trị, Xa Diễm qua được chín cửa “quỷ môn quan”, sốc nhiễm trùng, bệnh bại huyết septicemia, tan máu, xuất huyết ồ ạt đường tiêu hóa… lần nào cũng “hung hóa cát”.
Những liệu trình đều do các bác sĩ huyết học Nhi hàng đầu của tỉnh và Trung Quốc chẩn đoán quyết định, hiệu quả rất khả quan. Bệnh máu trắng căn bản đã được khống chế. Tất cả đang chờ tin Xa Diễm lành bệnh.
Nhưng những bệnh tật đi theo những tác dụng phụ của hóa chất trị liệu rất đáng sợ. Và so với hầu hết những đứa trẻ bị bệnh máu trắng khác, thể chất Xa Diễm rất yếu ớt. Sau đợt phẫu thuật, sức khỏe Xa Diễm càng kém.
Buổi sáng ngày 20/8, em hỏi phóng viên Truyền Diễm: “Dì ơi, xin dì cho con biết, vì sao mọi người quyên góp tiền cho con?” “Bởi vì họ đều có lòng tốt!” “Dì ơi, con cũng làm người tốt”. “Bản thân con đã là một người tốt. Những người tốt sẽ giúp đỡ nhau, mới làm nên những điều càng thiện lương”. Xa Diễm móc từ dưới gối ra một cuốn vở bài tập, đưa cho Truyền Diễm: “Dì ơi, đây là di chúc của con…”.
Phóng viên Truyền Diễm kinh ngạc, vội vã mở vở ra, quả nhiên là những việc Xa Diễm thu xếp hậu sự. Đây là một đứa trẻ tám tuổi sắp về cõi chết, nằm bò trên giường bệnh dùng bút chì nắn nót viết ba trang “Di chúc”.
Vì em còn nhỏ quá, còn nhiều chữ Hán chưa học nên chưa viết được hết, còn có những chữ viết sai. Xem có thể biết em không thể viết một mạch bức thư này, mà viết sáu đoạn.
Mở đầu là “Dì Truyền Diễm”, kết thúc là “Tạm biệt dì Truyền Diễm”. Suốt cả bức thư, chữ “Dì Truyền Diễm” xuất hiện 7 lần, và 9 lần gọi tắt là Dì.
Phía sau 16 chữ xưng hô này, tất cả là những điều “nhờ vả dì làm hộ” khi em lìa đời. Và còn cả lời muốn qua phóng viên “cảm ơn” và “tạm biệt” với cả thế giới.
“Tạm biệt dì, chúng ta sẽ gặp nhau trong mơ. Dì Truyền Diễm, nhà cha con sắp sập rồi. Cha đừng buồn, xin cha cũng đừng nhảy lầu. Dì Truyền Diễm xin dì trông coi bố con.
Dì ơi, cái tiền của con cho trường con một ít ít, cảm ơn dì chuyển lời cảm tạ tới Hội trưởng Hội Hồng thập tự. Con chết xong, mang hết chỗ tiền còn lại chia ra cho những người mắc bệnh giống con, giúp họ đỡ bị bệnh hơn…”.
Bức di chúc làm Truyền Diễm giàn giụa nước mắt, khóc không thành tiếng.
Nhìn Xa Diễm đau bụng lăn lộn, bác sĩ và y tá đều bật khóc. Tất cả mọi người đều muốn gánh đau cho em, nhưng không thể làm gì được.
![]() |
| Bia mộ Xa Diễm có dòng chữ: “Con từng được sống và con rất ngoan”. |
Tám tuổi. Xa Diễm đã thoát được cơn bệnh tật quái ác, và ra đi an lành.
Trên bia mộ, một bức ảnh Xa Diễm cười mím mím, tay cầm một bông hoa dại bé xíu. Mặt chính của bia chỉ ghi vỏn vẹn: “Con đã từng được sống, con rất ngoan! (30/11/1996-22/8/2005)”.
Mặt sau bia có ghi vài lời đơn giản giới thiệu thân thế Xa Diễm, câu cuối cùng là: “Trong những năm Em sống, Em đã được nhận những ấm áp của con người. Xin Em yên nghỉ, thiên đường có Em nên thiên đường càng đẹp đẽ”.
Theo đúng chúc thư, 540.000 Nhân dân tệ còn thừa lại chia thành những tặng vật chia cho những em bé khác bị mắc bệnh máu trắng. Bệnh viện còn ghi lại tên của 7 bệnh nhân nhi này, Dương Tâm Lâm, Từ Lê, Hoàng Chí Cường, Lưu Linh Lộ, Trương Vũ Tiệp, Cao Kiện, Vương Kiệt.
Những bệnh nhân này lớn nhất là 19 tuổi, nhỏ nhất là 2 tuổi, đều là những em gia đình quá nghèo, đang giãy giụa giữa sự sống và cái chết.
Ngày 24/9, ca phẫu thuật đầu tiên thành công dành cho bệnh nhân được nhận viện phí từ Xa Diễm, là cô bé Từ Lê ở bệnh viện Hoa Tây. Sau phẫu thuật, Từ Lê mỉm cười với gương mặt trắng xanh, nói: “Xa Diễm, hãy yên nghỉ, về sau này, bia mộ của chúng tôi cũng sẽ ghi thêm một dòng như nhau: Tôi đã từng đến trong đời này, và tôi rất ngoan!”
(Tiền Phong)
Dưới chân mình luôn có lối đi
| Bà Nguyễn Thị Tuyết Thanh (63 tuổi, quê Long An), một mình nuôi bảy người con vào đại học – Ảnh: Tiểu Quyên |
TT – Tôi sinh ra đã phận nhà nghèo, bao đời sống lam lũ với nghiệp nhà nông. Tôi lấy chồng năm 18 tuổi.
Những đứa con lần lượt ra đời, nhà càng lâm vào cảnh nghèo rớt mồng tơi. Những tưởng vợ chồng sẽ cùng nhau vượt qua khốn khó, nào ngờ chồng tôi lấy hết của cải trong nhà rồi bỏ đi biền biệt.
Tôi còn lại đôi bàn tay trắng và đàn con bảy đứa đang tuổi ăn tuổi lớn. Tôi khóc cạn nước mắt, có lúc tưởng chừng mình sẽ đổ gục xuống. Các con tôi rồi sẽ phải nghỉ học, sẽ suốt đời cắm mặt với ruộng đồng, cái nghèo sẽ tiếp tục bủa vây đời chúng. Viễn cảnh về một tương lai xám xịt ấy khiến tôi đau thắt từng khúc ruột.
Rồi khi nước mắt cũng không còn để rơi, nỗi oán hận người chồng bội bạc cũng đóng băng trong lòng, tôi biết mình cần phải đứng lên và bước đi, phải cho các con được ăn học để không phải khổ như đời mẹ chúng. Tôi xoay đủ thứ nghề. Ngoài làm mấy công ruộng rẫy, tôi đi bán rau cá, rồi gánh chè đậu xanh, sương sa hạt lựu rong ruổi khắp làng nhưng vẫn không đủ sống. Nhà chỉ ăn cháo với rau. Nhà ngoại cũng nghèo, bên nội thì không thương, bà nội thậm chí không nhìn mặt những đứa cháu gái của mình. “Sinh ra cả đám con gái có mà hỏng hết” – tôi nuốt nước mắt khi nghe những lời cay nghiệt. Quyết tâm nuôi con ăn học thành tài trong tôi càng mãnh liệt hơn. Tôi luôn dạy các con phải biết nhìn thẳng và đi tới.
Khi con trai đầu vào đại học, tôi nhớ mình không nói nổi điều gì, chỉ biết khóc rồi cười. Nó là người đầu tiên ở cái vùng quê heo hút quanh năm người ta chỉ biết bán mặt cho đất, bán lưng cho trời này vào đại học. Nhưng khó khăn từ đó cũng chồng chất thêm, tôi thức trắng hàng đêm để tìm phương kế mưu sinh. Vay được số vốn 200.000 đồng ít ỏi, tôi đánh liều một thân một mình lên TP.HCM dò tìm chợ Tân Bình mua quần áo cũ.
Rồi lại xuống miệt Rừng Sác (huyện Cần Giờ), mỗi ngày tôi đi bộ từ sáng sớm mang quần áo rao bán khắp các xã vùng lân cận, tối đến tá túc tại nhà một người bà con xa. Thời gian đầu, đôi chân cứ phồng rộp lên rát buốt, vai thì bầm tím, nhưng vì tiết kiệm nên tôi không dám đi xe. Cô bác cũng thương tình nên mua giúp hàng ở chỗ tôi.
Ở nhà, các con chịu khó trồng hành trồng cải, thức khuya dậy sớm gánh ra chợ bán. Những tưởng cuộc sống được yên ổn, nào ngờ người cha vô trách nhiệm lại trở về, đánh đập các con tôi, đòi tiền không có nên bán cả giường tủ, cả số gỗ ít ỏi dành dụm để dựng một ngôi nhà lành lặn hơn cũng bị mang đi. Lòng tôi đã sạn chai với nỗi oán hận, nhưng các con tôi thì không thể nào gột rửa được ký ức xót xa về cha chúng cho đến tận bây giờ.
Rồi những năm tháng cơ cực nhất cũng qua đi. Bảy người con của tôi cũng lần lượt vào đại học, đứa ra trường xin được việc làm thì chung tay phụ mẹ nuôi em ăn học. Với tôi, đó là niềm hạnh phúc nhất của cả đời làm mẹ. Nhiều lúc nhìn lại đời mình, tôi nghĩ không hiểu sao mình lại có thể đi qua một chặng đường “khủng khiếp” như vậy để nuôi con, hóa ra tình mẫu tử đã giúp tôi vượt qua tất cả. Bây giờ thì tôi đã có thể tin rằng khó khăn nào cũng có thể vượt qua, vì dưới chân mình bao giờ cũng có một lối đi.
NGUYỄN THỊ TUYẾT THANH (xã Tam Thôn Hiệp, huyện Cần Giờ, TP.HCM)
TIỂU QUYÊN ghi
Rạch bụng vợ cứu con
Khi không thể chịu đựng hơn được nữa, linh cảm đàn bà khiến chị Hoa đoán được điều gì sắp xảy ra. Thu hết sức tàn, chị giục chồng: “Anh mổ bụng em cứu con ngay không nó chết ngạt mất”…
![]() |
| Gia đình Nguyễn Thị Hoa và Nguyễn Dưỡng trước ngày bé Xuyến ra đời |
Xã Xuân Phước, huyện Đồng Xuân, Phú Yên nằm lọt thỏm giữa một thung lũng cằn cỗi. Chảy qua đó, sông Kỳ Lộ kiệt nước, phơi mình thành bãi cát trắng vật vã.
Từ đồng bằng Tuy Hòa, những “cơn gió chuyên cần và phóng túng” đi lạc vào đây bị núi chắn tứ bề không tìm được lối ra, cứ thốc tháo đuổi nhau chạy quẩn quanh, tung bụi mù mịt, khiến mặt đất trơ ra toàn đá gan gà. Mùa khô, cỏ cũng không mọc nổi. Sống được nơi đó, may ra chỉ có… con người.
Ngôi nhà mà chúng tôi tìm đến quanh năm cửa im ỉm khóa. Một con bé lấm lem từ đâu chạy ùa về, không chào không hỏi, nhìn những ông khách ngơ ngác giữa vuông sân bé tin hin bằng cái nhìn vừa tò mò, vừa nghi kỵ. Dứt khoát không mở cửa, nó hét toáng lên bằng thứ thổ ngữ miền núi Tây Phú Yên, nghe chói lỏi: “Bè mé ởi, có ông nào hỏi gì kìa!”.
Cô bé ấy tên là Trần Thị Mỹ Xuyến, nhân vật chính trong một bi kịch số phận bắt đầu từ 11 năm trước và vẫn đang tiếp diễn.
Mồ côi, không họ hàng thân thích, một chữ bẻ đôi không biết, năm 1988, chị Nguyễn Thị Hoa trôi dạt đâu từ Bình Định đến Xuân Phước, làm thuê làm mướn.
Ở đó, chị gặp Nguyễn Dưỡng, cũng nghèo, cũng hoàn toàn không biết chữ. Không cưới hỏi, họ cất một túp lều trên phần đất được người chị ruột của Nguyễn Dưỡng nhường cho. Hai cậu con trai nối nhau ra đời. Cả một cái tên tử tế để đặt cho con, Dưỡng cũng không nghĩ ra nổi, chỉ gọi xách qué là “thằng Chó” và “thằng Tí”.
Họ không làm khai sinh cho con, bởi bản thân họ cũng chưa bao giờ đăng ký hộ khẩu. Cán bộ xã đến nhắc, Dưỡng cắm cảu: “Đằng nào cũng đi làm mướn, khai sinh hộ khẩu làm gì?”.
Vợ có thai lần thứ ba, trai hay gái thì “chưa sinh làm sao mà biết”. Nguyễn Dưỡng chỉ chuẩn bị được một thúng lúa và một ít than củi chờ vợ vượt cạn. Ngày Hoa gần sinh, Dưỡng không đưa vợ ra trạm xá xã vì không có tiền.
Trưa hôm đó, chị vợ đau đẻ, rên la dữ dội, bà con lối xóm lo lắng kéo đến rất đông. Dưỡng bảo: “Bà con cứ về đi, vợ tôi sinh dễ lắm”. Dốt nát sinh ra chủ quan. Hai lần sinh nở trước, chị Hoa cũng không đi trạm xá. Lần đầu, chị được một bà cô của chồng đỡ đẻ. Lần sau, Dưỡng tự đỡ lấy.
Theo sự chỉ dẫn của vợ, anh cắt rốn cho con bằng một nút lạt rồi lấy răng cắn chỉ buộc túm lại. Cả hai lần đều mẹ tròn con vuông, Dưỡng nghĩ chắc lần này cũng thế!
Khi không thể chịu đựng hơn được nữa, linh cảm đàn bà khiến chị Hoa đoán được điều gì sắp xảy ra. Thu hết sức tàn, chị giục chồng: “Anh mổ bụng em cứu con ngay không nó chết ngạt mất”.
Vét nhẵn túi, Dưỡng đưa cho đứa con trai lớn 500 đồng giục nó đi mua lưỡi lam. Một lát thằng bé chạy về không. Lưỡi lam giá 800 đồng, chỉ có 500 đồng người ta không bán. Vợ vẫn giục cuống quýt. Đã giữa chiều, hàng xóm đi làm hết cả nên không biết cậy nhờ ai, Nguyễn Dưỡng bấn xúc xích cả lên. Anh chạy vội xuống bếp xách con dao thái rau heo lên, liếc sơ qua chiếc rựa cùn và làm ngay, không vô trùng, không gây mê, không gây tê gì cả.
Dao cùn quá, day mãi vẫn không đứt, anh ta vớ ngay chiếc liềm cắt cỏ rạch lên bụng vợ một đường dài. Máu chảy lênh láng ướt đẫm cả giường chiếu. Ruột gan người đàn bà khốn khổ trào ra, Dưỡng hốt đặt sang một bên, thọc tay vào bụng vợ lôi đứa con ra, cắt rốn cho nó cũng bằng chính chiếc liềm. Một đứa bé gái.
Thấy máu chảy quá nhiều, sợ vợ chết, anh đặt nó sang giường bên cạnh, vội vã hốt gan ruột nhét vào bụng cho vợ rồi lấy chỉ khâu quần áo may lại. Sau này, Dưỡng thuật lại: “Nó bảo sao em làm thế. Em may bụng vợ như người ta may miệng bao!”.
![]() |
| Bé Trần Thị Mỹ Xuyến |
Chị vợ đau quá, không đủ sức rên, hai hàm răng nghiến chặt và liên tục giãy giụa. Khi Dưỡng nghiến răng siết chặt nốt chỉ cuối cùng thì chị Hoa giật người lên, thở hắt ra lần cuối. Chị chết ngay trên giường đẻ vì mất máu! Hôm đó là ngày 8/1/1996. Bởi sinh ra trong bi kịch nên ngày sinh của đứa bé mới được nhiều người nhớ rõ, nếu không thì chắc chắn nó sẽ chẳng bao giờ nghĩ ra là mình cũng có phút được sinh thành!
Bà mẹ trẻ xấu số được chính quyền địa phương lo việc ma chay, mộ phần tươm tất. Các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng vào cuộc với tất cả sự bối rối. Khởi tố hay không khởi tố? Thiếu tá Lưu Văn Hùng, lúc đó còn đeo quân hàm đại úy, Đội trưởng đội điều tra Công an huyện Đồng Xuân nhớ lại: “Chúng tôi hết sức hoang mang. Xét về hành vi, Nguyễn Dưỡng đã cấu thành tội danh giết người, hậu quả hết sức nghiêm trọng. Nhưng động cơ của anh ta lại là để cứu người, cộng vào đó là sự thiếu hiểu biết trầm trọng trong nhận thức, phải kết án anh ta thì quá đau lòng. Những đứa trẻ vừa mất mẹ, lại còn quá nhỏ…”.
Cuối cùng, sau khi cân nhắc đủ đường, luật pháp đã dành cho đối tượng tất cả tính nhân đạo. Hồ sơ được xếp lại, không có lệnh khởi tố với sự đồng ý tuyệt đối của các bên dự bàn. Không ai muốn tính sổ với một nỗi đau đã đi đến tận cùng, cũng không ai muốn kéo dài thêm bi kịch bằng một phiên tòa.
Hai ngày sau cái chết của chị Hoa, một người đàn bà từ huyện Sông Cầu đã đến Đồng Xuân định xin đứa bé về nuôi. Nén nhang thắp vội cháy chưa kịp tàn, nhìn gia cảnh của nạn nhân, bà ta đã đổi ý ngay.
Một người phụ nữ khác cũng được Công ty Minh Phụng từ TP Hồ Chí Minh cử ra đặt vấn đề nuôi dưỡng hoặc chu cấp việc nuôi dưỡng cháu. Thấy vậy, người chị ruột của Nguyễn Dưỡng dứt khoát giành nuôi cháu. Cái cớ tình máu mủ mà chị ta viện ra có pha một chút vụ lợi không giấu giếm được ai.
Một cô gái khác tên là Trần Thị Mâu, bị chồng ruồng bỏ cũng đến xin Dưỡng cho nhận bé làm con. Bốn ngày sau khi sinh thành và mất mẹ, cháu bé được chị Mâu nhận về, lấy họ mình đặt cho cháu cái tên Trần Thị Mỹ Xuyến.
Chị Mâu sinh năm 1970, cũng quê ở Xuân Phước. 21 tuổi chị về làm dâu một gia đình bên xã Kỳ Lộ hơn một năm, thì bị chồng ly dị vì cái tội không sinh được con, anh ta phải đi lấy vợ khác để có con nối dõi tông đường. Con cái chỉ là cái cớ để gã chồng trăng gió biện minh cho cách sống buông thả vô trách nhiệm.
Chị Mâu trở lại xã Xuân Phước làm thuê làm mướn nuôi bà ngoại đã già trong túp lều nát. Học chưa hết lớp 6, chữ nghĩa bị cái nghèo cái khổ thổi bay đâu hết cả, Mâu cứ đinh ninh lời gã chồng bội bạc là sự thật, rằng chị là một người đàn bà “không biết đẻ”. Vì thế chị nằng nặc xin bé Xuyến làm con cho thỏa khao khát thiên chức làm mẹ, dù làm gì ra tiền để nuôi con thì Mâu vẫn chưa hình dung ra hết.
Giữ đúng lời hứa, Công ty Minh Phụng đã trợ cấp cho mẹ con chị Mâu 500 ngàn đồng/tháng. Nhưng chỉ sau ba tháng, vụ án Minh Phụng nổ ra, nguồn trợ cấp duy nhất ấy bị cắt đứt. Ban đầu bú sữa bò, sau húp nước cháo, bé Xuyến vẫn lớn lên, bụ bẫm. Con nhà khó không quen đòi hỏi làm khổ cha khổ mẹ. Vả lại, chỉ có gã chồng cà chớn kia mới dám bảo là Mâu không biết đẻ.
Chỉ hơn một năm sau đó, bé Xuyến đã có em, cũng mang họ mẹ là Trần Đức Nghĩa. Trong những ngày làm thuê làm mướn, Mâu tình cờ quen và phải lòng Trương Văn Kim, một người đàn ông đã có vợ và 3 con ở xã Xuân Quang. Khi Kim cứ nằng nặc đòi Mâu “cho gửi nhờ một đứa”, Mâu đặt điều kiện: “Anh về nói với vợ. Hễ chị ấy sang nói đồng ý không đánh ghen thì em về ở với anh”.
Vợ Quang đến thật, 3 lần. Hai người đàn bà nắm tay nhau khóc một hồi, cuối cùng chị vợ của Kim cũng bằng lòng cho chồng lấy vợ lẽ, không oán trách hay ghen tuông gì, bao nhiêu tủi hờn nuốt ngược vào trong.
“Gặp bả, em run muốn chết, đâu dám hỏi han, chỉ nghe anh Kim gọi chị ấy là Loan thì biết tên chị là Loan”. Những mối tơ duyên chắp vá thường rất kiệm ngôn. Đã quá thừa thãi nỗi buồn, người đàn bà mất chồng cũng chẳng định gây thêm rắc rối cho một người đàn bà khác cũng khốn khổ không kém gì mình!
Vợ mất, Nguyễn Dưỡng như một người mất hồn cứ ngồi bóp trán, đầu gối chạm mang tai, mặc kệ ai làm gì thì làm. Chẳng thiết làm ăn gì nữa, anh ta chỉ tìm cách nguôi ngoai trong đáy chén tiêu sầu. Chẳng bao lâu, Dưỡng đã trở thành một kẻ nát rượu. Bao nhiêu tiền thiên hạ từ tâm gửi cho, Dưỡng đều trút hết vào đáy chai, chẳng hề gửi cho chị Mâu lấy một đồng để chăm lo cho bé Xuyến.
Gửi được con, anh ta lại đòi lấy luôn cả… mẹ. Cái lý của gã say cùn không chấp nhận được: “Bà làm mẹ con tui thì bà phải là… vợ tui”. Khi thấy Trương Văn Kim dọn về nhà Xuyến ở, ma men lại xui gã đến gây gổ. Gã cứ xộc vào nhà Mâu mà hét toáng lên: “Không công bằng! Thằng có tới hai ba vợ, thằng không có vợ nào, nghĩa là sao?”!
Không chịu nổi Trương Văn Kim lao ra. Hai người đàn ông xông vào đánh nhau. Dĩ nhiên phần thắng không thuộc về gã say càn quấy. Từ đó, Dưỡng biến mất, bỏ mặc con gái mình bữa đói bữa no trong vòng tay của cặp vợ chồng rổ rá cạp lại.
Cả hai vợ chồng Mâu – Kim đều thất nghiệp, sống bằng nghề làm thuê cuốc mướn khi có khi không. Việc nuôi hai đứa trẻ trở thành gánh nặng, chỉ cốt lo cho chúng được ngày ba bữa cơm, mắm muối có gì ăn nấy là tốt lắm rồi. Hết mẫu giáo, chị em bé Xuyến cũng được mẹ cho vào học lớp 1.
“Con nhà… nòi hay sao ấy, nó học mãi vẫn không thuộc nổi mặt chữ. Học 4 năm liền, hết trường công lại chuyển sang phổ cập ban đêm, con bé vẫn không thể vượt qua lớp 1, phải cho nghỉ luôn, trong khi thằng cu Nghĩa em nó thì đã vào được lớp 3″ – Mâu kể.
Vừa giận vừa thương con, chị bẻ roi quất, nó khóc thét lên. Kim can vợ: “Thôi đừng đánh, tội nghiệp nó. Di truyền rồi, không dạy được đâu!”. Bất lực, chị Mâu khóc, vờ lôi quần áo bé Xuyến ra nhét vào giỏ, dọa: “Trả mày về với ba mày”.
Mỗi lần như vậy, bé Xuyến lại khóc thét, ôm ngang chân chị: “Con chừa rồi, con ngoan rồi, bè mé đừng đuổi con. Mai mốt bự lên, con đi làm mướn nuôi bè mé!”.
Lâu lắm, gã nát rượu Nguyễn Dưỡng mới tạt qua thăm con một lần. Cha vào cửa trước, con bé trốn ra cửa sau, sợ cha như sợ cọp! Bé Xuyến sợ là phải. Dù được sống với cha, cuộc đời hai người anh của nó cũng chẳng hạnh phúc gì hơn.
Hồi còn học mẫu giáo, cả hai đều từng được đi thi bé khỏe bé ngoan. Thật ra ngoan hay không thì chưa biết, nhưng khỏe thì chắc chắn. Dù chỉ lăn lóc cùng sắn với khoai, hai đứa bé trai ấy cũng lớn lên, răng cỏ tuy xộc xệch, da đen nhẻm nhưng chẳng biết đau ốm là gì.
Cũng như đứa em sống nhờ tình thương của người xa lạ, chúng chỉ học hết mẫu giáo là thôi. Dưỡng gửi hai đứa con đi ở đợ chăn bò cho hai chủ khác.
Đầu năm 2006, khi đến ứng trước tiền lương của thằng con lớn, anh ta đã bị nó đuổi thẳng: “Ba về đi, tiền đó để cho tui làm vốn”. Ừ thì về, gã say không tự ái. Vả lại, cuối cùng thì gã cũng đã có cơ hội tục huyền với một cô gái làm thuê khác ở huyện Sơn Hòa và theo vợ về quê mới định cư.
Đầu tháng 9/2005, gã lại có thêm một đứa con trai. Ngôi nhà được nhà nước xây cho ở thôn Long Hà, thị trấn La Hai chỉ còn lại người mẹ già của gã lủi thủi một mình, gió xộc vào cửa trước cứ tha hồ chui tọt cửa sau mà ra ngoài, chẳng ai ngăn trở!
Nhà chị Mâu cũng đã xây. Năm 2000, được địa phương hỗ trợ 5 triệu đồng, hai vợ chồng cóp nhặt thêm một ít xây được một căn nhà cấp 4, cửa đóng bằng tôn, rộng chừng 20 m2 bên cạnh túp lều tranh của bà ngoại đã già.
Tài sản có giá nhất của đôi vợ chồng nghèo là một giếng đất, thành xếp bằng đá núi. Đáy giếng phủ đầy rêu và rác, là nơi dung thân của một mớ cóc nhái, nòng nọc.
Mùa khô, giếng cạn rặc. Chẳng bao lâu nữa, không thoát đi được đâu, có lẽ mớ cóc nhái ấy cũng sẽ chết hết. Giếng nhà nghèo, đến nước cũng cạn trơ, làm sao sống nổi?
Cuộc mưu sinh cũng đã đến hồi cùng quẫn, Kim theo một người bà con bỏ vào TP Hồ Chí Minh làm thuê, nhiều tháng ròng vẫn không hề có tin tức gửi về. Ba mẹ con ở nhà sống lắt lay trong đợi chờ bằng khỏan thu nhập khoảng 15-20 ngàn đồng/ngày của chị Mâu.
“Bữa nay nắng, hổng ai mướn bả, tụi con ăn cơm muối hoài”. Bé Xuyến nói leo xen vào câu chuyện. Chị Mâu mắng con bé rồi ngồi thừ ra. Sự thật tình thương của người mẹ nuôi đã giúp bé Xuyến được lớn lên, nhưng lại không đủ sức, cũng không mấy để ý trong việc dạy dỗ để cháu có thể trưởng thành một cách đủ nghĩa. Bé Xuyến nói năng rất hỗn. Trước mặt khách cả hai mẹ con đều gọi nhau bằng “bà”!
Không học hành gì cả, bé Xuyến chỉ đặc biệt say mê chơi với búp bê và chỉ giúp mẹ được duy nhất mỗi việc là nấu nồi cơm. Nó dọa chị Mâu: “Bè mè không mua bấp bơ là tui hổng nấu cơm cho bè đâu”.
Dành dụm mãi, chị Mâu mới mua được cho nó một con búp bê, loại phiên bản rẻ tiền của cô búp bê Barbie lừng danh quí phái, giá chỉ 2000 đồng. Suốt ngày, con bé quên cả nhiệm vụ trông nhà, cứ lang thang khắp xóm xin vải vụn để khâu váy dài váy ngắn cho “bấp bơ” cưng của nó.
Bàn tay non nớt, đường kim thô vụng, nó đã khâu được vài ba bộ váy, một cái võng và một tấm chăn cho nàng Barbie đủ đồ nghề lên sàn diễn, “y như trong tiwi mấy nhà kia vậy”.
Hai chân của chiếc bàn xộc xệch trong nhà được nó tận dụng, biến thành nơi mắc võng ru búp bê. Nhìn nó say mê đưa võng, tôi lại chạnh lòng. Với bàn tay đưa nôi miệt mài của bé, hẳn búp bê Barber sẽ không thiếu những giấc mơ an lành và tươi dẹp. Nhưng, có bàn tay nhân ái nào ru nổi giấc mơ đủ đầy cơm áo và giúp bé Xuyến cùng những người anh em của nó lớn khôn nổi hay không?
Chúng tôi đến thăm ngôi nhà ấy đúng vào giờ học trò vô lớp buổi chiều. Thế nhưng, tiếng trống trường rộn rã vẫn không gợi lên chút náo nức nào trong đôi mắt già trước tuổi và có vẻ cứng cỏi, gan lỳ của cô bé ấy.
Mắt trẻ thơ không đong đầy ao ước, phía tương lai có cơ hội nào để tìm được thành công? Câu hỏi tự mình đặt ra, với chúng tôi, lời đáp đã trở nên lẩn quẩn.
Chị Mâu thì ca cẩm: “phải chi nó học thật giỏi, mai mốt còn gửi đi làm công nhân may thì sướng biết mấy. Giờ thì chịu rồi, một chữ bẻ đôi cũng không nhớ nổi, lại “đâm sừng” (ý nói ngang ngược) y như ba nó, có xin đi ở đợ chắc cũng không ai dám nhận. Đời nó rồi cũng không khá gì hơn bố mẹ đẻ của nó đâu”.
Chị chỉ nói đến đó rồi im bặt. Nếu đầy đủ hơn thì phải kể thêm cả bố mẹ nuôi của nó nữa chứ. Họ cũng khổ, cũng nghèo, cũng quẩn quanh nắng bụi. Hơn mười năm nay, tôi vẫn luôn đau đáu với câu hỏi: những cuộc đời trong bi kịch sinh nở kinh hoàng ấy giờ sống ra sao?
Nhiều lần dò hỏi, tôi chỉ nhận được từ những đồng nghiệp biết chuyện một lời khuyên: “Quá đủ rồi, đừng rắc muối lên vết thương của người ta nữa!”. Thật tình, tôi chỉ tìm đến thăm với mong ước được nhìn thấy cuộc sống của họ đã tốt đẹp hơn, không bao giờ phải trở thành nhân vật của một trang viết nào nữa cả. Nhưng thực tế đã bắt tôi phải làm điều ngược lại.
Nếu quả thật như vậy là nhẫn tâm tôi sẽ xin được gánh trách nhiệm một mình. Muốn hiểu rõ mình hơn, xin hãy thử lắng nghe giấc mơ của người khác.
Theo Hồng Lam ![]()




