10 tiến bộ trong điều trị ung thư năm 2008

te-bao-ung-thu-401091. Erbitux với bệnh ung thư phổi

Nghiên cứu năm 2008 đã chỉ ra rằng bổ sung thêm Erbitux vào giai đoạn trị liệu hoá học thông thường sẽ tăng khả năng sống của bệnh nhân lên 2% ở những bệnh nhân mà khối u bướu có chứa phân tử EGFR (cơ quan thụ cảm phát triển biểu bì)

2. Gemzar với ung thư tuyến tuỵ

Chỉ 5% số người bị ung thư tuyến tuỵ còn sống sau 5 năm phát hiện ra bệnh. Trong năm 2008, một nghiên cứu lớn ở những bệnh nhân bị ung thư tuyến tuỵ giai đoạn đầu cho thấy: sau khi phẫu thuật cắt bỏ u, phương pháp hoá học trị liệu Gemzar tăng gấp 2 lần khả năng sống của bệnh nhân.

3. Treanda với bệnh bạch cầu mãn tính

Vào tháng 3 năm 2008, Cơ quan kiểm soát Thực phẩm và Dược Phẩm FDA đã phê chuẩn Treanda cho việc điều trị ban đầu bệnh bạch cầu mãn tính.

Các nhà nghiên cứu nghĩ rằng nó chỉ là một loại thuốc như những loại thuốc cùng loại khác. Nhưng sau khi nghiên cứu những tác dụng khác biệt của thuốc giúp chống lại ung thư máu ở phạm vi rộng, kết quả cho thấy Treanda loại bỏ ung thư hoàn toàn đến 30% ở những bệnh nhân mắc bệnh máu trắng.

4. Avastin với ung thư vú di căn

Avastin tiêu diệt u bằng việc gây khó khăn cho sự phát triển các mạch máu mới nuôi dưỡng tế bào ung thư. Vào tháng 2, Cơ quan kiểm soát Thực và Dược Phẩm FDA đã phê chuẩn Avastin sử dụng kết hợp với Taxol ở những bệnh nhân bị ung thư vú di căn chưa được điều trị trước đó.

Phê chuẩn này được đưa ra sau nghiên cứu năm 2007 thấy rằng việc kết hợp Avastin và Taxol làm tăng gấp 2 lần khả năng sống so với việc chỉ dùng Taxol ở những bệnh nhân bị ung thư vú di căn.

5. Liệu pháp điều trị hormone lâu dài với bệnh ung thư vú

Các bác sĩ thường ngăn ngừa sự tái phát của bệnh ung thư vú bằng việc điều trị tamoxifin trong giai đoạn 5 năm. Các nghiên cứu mới đã thay đổi và chỉ ra rằng phụ nữ có thể giảm nguy cơ tái mắc ung thư vú bằng việc dùng tamoxifen hoặc chất ức chế aromatase (như Femara) trong vài năm.

6. Zometa với bệnh ung thư vú

Năm ngoái, các nhà nghiên cứu đã thấy rằng Zometa – thuốc có tác dụng làm chắc khoẻ xương có thể làm giảm nguy cơ tái mắc ung thư vú nếu được dùng ở những phụ nữ giai đoạn tiền mãn kinh đã thực hiện liệu pháp ức chế hormone với tamoxifen hay Arimidex và Zoladex.

7. Protein ngừa vi rút với các khối u ác

Các nghiên cứu ở Châu Âu đã chỉ ra rằng điều trị 1 năm với loại protein ngừa vi rút phát triển sẽ giảm nguy cơ tái phát các khối u ác tính xuống 18% ở những bệnh nhân đã từng làm phẫu thuật ung thư da.

8. Erbitux với ung thư ruột kết

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng Erbitux chỉ có tác dụng với những bệnh nhân mà khối u bướu có mang gien KRAS. Điều này có nghĩa là những bệnh nhân này sẽ không phải chịu những tác dụng phụ của hoá trị liệu.

9. Thuốc tránh thai và nguy cơ ung thư buồng trứng

Việc phân tích dữ liệu từ 45 nghiên cứu đã chỉ ra rằng với những  phụ nữ dùng thuốc tránh thai đường uống 5 năm sẽ giảm 20% nguy cơ ung thư buồng trứng.

10. Vắc xin HPV giảm ung thư miệng

Nghiên cứu năm 2008 đã chỉ ra rằng ung thư miệng có liên quan đến sự phát triển của vi rút HPV và thường là do quan hệ bằng đường miệng. Vì thế vắc xin HPV được xem là có tác dụng ngừa ung thư đường miệng.

Theo wmd

One thought on “10 tiến bộ trong điều trị ung thư năm 2008

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s